Kinh Thánh, Khoa Học và Niềm Tin

Kinh Thánh, Khoa Học và Niềm Tin

– Peter Nguyen –
Webblog: Goodnewsmission.wordpress.com

Mục Lục Bài Viết

Lời mở đầu………………….
1. Sự trở về kỳ diệu của dân Israel (hay còn gọi là Y-sơ-ra-ên) ………………….
2. Thảm họa phóng xạ, bom nguyên tử – Điều này đã được tiên tri trong Kinh Thánh?……..
3. Con chíp 666………………….

4. “Bão” châu chấu trong kinh thánh là có thật………………….
5. Chuyện về chòm Sao Rua (Pleiades) và Sao Cầy! …………………..
6. Một vài thú vị về Khí tượng học và Hải dương học! ………………….
7. Thêm một vài lời chứng về Chúa Jesus………………….
8. Sự thật về vụ án Ga-li-lê, Cô-péch-nic………………….
9. Một thú vị về canh tác đất đai trong Kinh Thánh! ………………….
10. Chuyện vệ sinh, y tế trong Kinh Thánh………………….

—————————————OoO—————————————

Lời mở đầu

– Xin chào tất cả các bạn, trong các bạn có ai biết trước được tương lai dù chỉ là 5 phút không nhỉ? Hihi… chắc chắn là không rồi! Nếu tôi mà biết trước được dù chỉ là trước 5 phút thôi có lẽ tôi sẽ thành một tỉ phú đấy, chẳng hạn như trên thị trường chứng khoán thì nếu bạn biết trước được 5 phút thôi thì bạn cũng có thể dễ dàng trở thành tỉ phú như tôi nói!

Hôm nay tôi thì sẽ định giới thiệu cho bạn về một quyển sách nói về “Lời hứa và Tương lai”, một quyển sách chứa đựng toàn bộ những Ngôi Lời của Đức Chúa Trời, một phần trong Kinh Thánh thì có đề cập đến các lời tiên tri và một số điều liên quan đến khoa học, một quyển sách khẳng định chắc chắn những điều trong tương lai, thậm chí là trước hàng trăm hàng ngàn năm; Tuy nhiên điều quan trọng nhất mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cho nhân loại mà Ngài tạo dựng nên và Ngài rất mực yêu thương đó là một thế giới về “Tấm Lòng”, tôi có thể khẳng định với các bạn một cách chắc chắn rằng không một nơi đâu ngoài Kinh Thánh, ngoài Đức Chúa Trời có thể mang đến cho bạn một cách thức giải quyết tận gốc bản chất “Tội Lỗi” trong tấm lòng của con người, một nơi mà con người có thể cảm nhận được sự “Bình an thật” – tức là một sự bình an tồn tại mãi mãi không bao giờ thay đổi… qua đó mà nhiều người ngày nay đời sống của họ đã được thay đổi một cách lạ lùng, trong đó có nhiều người mà tận mắt của tôi đã nhìn thấy được sự kỳ diệu đó – KINH THÁNH.

Kinh thánh có một sức ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của rất nhiều người trên thế giới từ thuở xa xưa cho đến thời hiện đại bây giờ. Số bản in Kinh thánh vượt mọi sách khác. Một cuốn sách được in nhiều nhất và luôn đứng đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại.; Kinh Thánh được viết trong vòng khoảng 1600 năm, gồm 66 (sáu mươi sáu) sách Cựu ước và Tân ước và được dịch ra khoảng trên dưới 230 thứ tiếng trên thế giới.

Mặc dù Kinh Thánh được viết bởi nhiều tác giả khác nhau, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, những người sống ở thời đại rất xa nhau nhưng các nội dung trong Kinh Thánh vẫn được liên kết một cách mật thiết và chặt chẽ với nhau, một sự ăn khớp đến tuyệt vời… Điều này càng thể hiện cho một chứng cớ rằng Kinh Thánh thì không phải viết theo ý riêng của các tác giả đó mà toàn bộ Kinh Thánh được sự soi dẫn của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời thì giải bày rất nhiều điều, những ý muốn của Ngài qua Kinh Thánh mà rất nhiều người ngày nay đã phát hiện ra những chân lý trong đó.

Nhưng tôi cần NHẤN MẠNH lại rằng Kinh Thánh không phải là một quyển sách trình bày các vấn đề khoa học, do vậy những chi tiết có liên hệ ít nhiều đến khoa học mà Kinh Thánh đề cập đến chỉ phụ và nhỏ nhặt, tuy vậy, những chi tiết này vẫn hài hòa trọn vẹn với những sự kiện khoa học là những điều đã được chứng minh là luôn luôn đúng. Lý do thật đơn giản và dễ hiểu, “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1:3), thì những gì Ngài nói ra trong Kinh Thánh chắc chắn phải đúng, kể cả về phương diện khoa học. Như chúng ta sẽ thấy sau đây, không những các sự kiện khoa học trùng hợp với Kinh Thánh, nhưng Kinh Thánh đã đi trước khoa học một thời gian rất dài.

Ví dụ như là một thiên tài về khoa học, nhà bác học Newton còn là một người tin nhận Đức Chúa Trời và ông dành rất nhiều thời giờ để nghiên cứu, tìm hiểu và viết sách giải nghĩa Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, ví dụ điển hình như tác phẩm “Observations upon the Prophecies of Daniel and The Apocalypse of St. John (1733)” của ông. Ngoài ra còn có rất nhiều thiên tài lừng danh khác đã đóng góp thật nhiều cho thành quả khoa học của nhân loại, đồng thời cũng tin nhận Chúa Jesus và Kinh Thánh, như nhà thiên văn học Johann Kepler, ông tổ ngành hóa học hiện đại Robert Boyle, nhà toán học kiêm triết gia Blaise Pascal, nhà vật lý học Michael Faraday, lý thuyết gia nguyên tử John Dalton, nhà vi trùng học Louis Pasteur…vv. Những khoa học gia vĩ đại này tìm thấy sự hài hòa trọn vẹn giữa các công trình nghiên cứu khoa học và mọi lời chép trong Kinh Thánh.

– Bài viết này dựa trên những phân tích, trên cơ sở những tài liệu, kiến thức mà tôi thu thập được và những cơ sở này được coi là khá chính xác.

Sau đây xin các bạn cùng tôi nghiên cứu qua 10 (mười) ví dụ nhỏ.

1. Sự trở về kỳ diệu của dân Israel (hay còn gọi là Y-sơ-ra-ên).

– Tên “Israel” có nghĩa là “Vật lộn cùng Đức Chúa Trời”, và tên đó bắt nguồn từ đoạn Sáng thế ký 32:28 của Kinh Thánh, trong đó Jacob – tổ phụ của dân Israel, được đổi tên là Israel sau khi ông vật lộn với một Thiên sứ của Đức Chúa Trời tại núi Phê-ni-ên. Tên Israel trong tiếng Do Thái là מְדִינַת יִשְׂרָאֵל

– Sau khi vua Sa-lô-môn (973 – 937 TCN) (còn nhiều tranh cãi về niên đại chính xác) qua đời, nước Israel bị chia đôi: Israel ở miền bắc và Juda ở miền nam. Danh từ Juda được phiên âm sang tiếng Hán thành “Do Thái”. Xứ Israel có thủ đô là Samaria, tồn tại đến năm 721 TCN thì bị đế quốc Assyria (nay ở miền bắc Irak) tiêu diệt. Xứ Juda có thủ đô là Jerusalem, tồn tại đến năm 587 TCN thì bị đế quốc Tân Babylon (nay ở miền nam Irak) tiêu diệt. (Nguồn: wikipedia)

Ngoài ra theo nhiều sử gia khác cho rằng chính thức năm 467 trước Công nguyên, đế quốc Ba-bi-lon đã chinh phục dân tộc cứng cổ này và mở đầu một giai đoạn lịch sử vô cùng tăm tối và đẫm máu.

Tuy nhiên, một điều kỳ diệu đến mức mà người ta thường nói là chỉ có phép lạ xảy ra thì mới có thể như vậy, một dân tộc sau hơn 2500 năm mất nước nay lại tuyên bố thành lập trở lại! Ngày 14 tháng 5 năm 1948, trước khi hết thời hạn uỷ trị của Anh tại Palestine vào lúc nửa đêm ngày 15 tháng 5 năm 1948, nhà nước Israel được tuyên bố thành lập.

Nhưng điều quan trọng mà tôi muốn nói với các bạn ở đây là sự kiện này xảy ra đã được ứng nghiệm lời tiên tri trong Kinh Thánh nói về lời hứa của Đức Chúa Trời với dân Israel, sách Giê-rê-mi đoạn 31 câu 16-17 (sách này được viết vào khoảng năm 630 TCN) đã nói trước một cách chắc chắn như sau: “16.Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nín tiếng ngươi, đừng than khóc, mắt ngươi đừng sa lụy, vì công việc của ngươi sẽ được thưởng; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù, Đức Giê-hô-va phán vậy. 17.Đức Giê-hô-va phán: Sẽ có sự trông mong cho kỳ sau rốt của ngươi; con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình.”

Một chi tiết nhỏ tôi muốn nói thêm với các bạn như sau:

– Trong thời gian bị đi đày, dân Do-thái bị các đế quốc Ba-bi-lon, A-si-ri, Ba tư. Hi-lạp, La Mã, Tây Ban Nha, Anh và Nga cố gắng đồng hóa hay sát hại. Đỉnh cao của tang thương là Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Đức Quốc Xã bắt 6 triệu người Do Thái bỏ vào lò thiêu sống.

– Sau khi nhà nước Israel được thành lập, quân đội Ai Cập, Syria, Jordan, Liban và Iraq ngay lập tức tham gia chiến đấu và bắt đầu giai đoạn hai của Chiến tranh Ả rập-Israel 1948 bằng việc tấn công Israel từ mọi phía nhằm duy trì trật tự cũ. Từ phía bắc, Syria, Liban và Iraq tiến tới sát biên giới. Các lực lượng Jordan tiến vào từ phía đông, chiếm Đông Jerusalem và bao vây phần phía Tây thành phố. Lúc này nhiều người lo ngại về việc Israel sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới một lần nữa. Tuy nhiên kết quả cuối cùng thì dân Israel vẫn giữ vững được đất nước mà họ vừa thành lập được! Điều này làm cho chúng ta càng thấy sự mầu nhiệm, sự chắc chắn trong lời hứa của Đức Chúa Trời.

2. Thảm họa phóng xạ, bom nguyên tử – Điều này đã được tiên tri trong Kinh Thánh?

– Trong Kinh Thánh, sách Xa-cha-ri đoạn 14 câu 12 chép rằng: “12.Vả, nầy sẽ là tai vạ mà Đức Giê-hô-va dùng để phạt mọi dân tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem: Ngài sẽ làm cho ai nấy khi chân đang đứng thì thịt mục nát ra, mắt mục trong vành nó, lưỡi mục trong miệng nó.”

Nhiều người trước đây thì không thể tưởng tượng ra được điều mà Kinh Thánh sách Xachari ở trên nói. Họ tự hỏi đây là cái gì? Cái gì mà có thể làm cho một người khỏe mạnh khi đang đứng mà da thịt mục nát ra? Cái gì mà có thể làm cho mắt con người đang bình thường mà bị mục nát hay thối rữa ngay bên trong mắt? Hay là làm sao mà lưỡi bị mục nát ra ngay trong miệng con người? Điều gì quá đỗi kinh hoàng như vậy? Dường như nó vượt quá mức sức tưởng tượng của con người.

Chính vì vậy mà rất nhiều người không tin lời tiên tri này trong Kinh Thánh, cho đó là một điều quá vô lý!

Nhưng mà một hôm thì sự việc này đã xảy ra thực sự, ngày 6 tháng 8 năm 1945 Lần đầu tiên trên thế giới một quả bom nguyên tử đã được ném xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản, lúc đó thì có khoảng 340 ngàn người đang sống tại thành phố này.


Vụ ném bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki là sự kiện hai quả bom nguyên tử được Quân đội Hoa Kỳ, theo lệnh của Tổng thống Harry S Truman, sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai vào những ngày gần cuối của Đệ nhị thế chiến tại Nhật Bản. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki.

Có nhiều nguyên nhân khiến con số chính xác người thiệt mạng không thống nhất. Các số liệu khác nhau bởi được thống kê vào các thời điểm khác nhau. Rất nhiều nạn nhân chết sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm bởi hậu quả của phóng xạ. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân.

Những người sống sót qua thảm họa được gọi là Hibakusha (tiếng Nhật: 被爆者), từ trong tiếng Nhật để chỉ “những người bị ảnh hưởng bởi vụ nổ nguyên tử“. Đến năm 2005, vẫn còn 266 ngàn hibakusha ở Nhật. (theo wikipedia)

– Khi bom nguyên tử nổ, ngay khi mà các tia phóng xạ từ quả bom đó phát ra nó sẽ xuyên qua cơ thể con người thì da thịt của con người sẽ bị thối ngay. Những phần thịt nào mà ẩn trong da của cơ thể sẽ bị thối trước rồi sau đó đến con mắt, rồi đến cái miệng của con người…

– Ngoài ra khi mà bom nguyên tử nổ thì những nạn nhân trực tiếp ảnh hưởng (do tiếp xúc phóng xạ với cường độ lớn) sẽ bị bỏng rất nặng, có hình ảnh ghi lại một em bé bị bỏng nặng đến nỗi cái chân của nó bị thối rữa và biến dạng mà chúng ta không thể nhận dạng ra nữa.

Chúng ta cùng xem một số hình ảnh về nạn nhân bom nguyên tử:

…”mắt mục trong vành nó”…

…”khi chân đang đứng thì thịt mục nát ra”… “lưỡi mục trong miệng nó”…

Họ đang nhìn ai?

3. Con chíp 666.

>> Dựa theo bài giảng của mục sư Park
 

– Kinh Thánh, sách Khải Huyền đoạn 13 câu 16-17-18 chép rằng: “16Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, 17hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó thì không thể mua cùng bán được. 18Đây tỏ ra sự khôn ngoan: Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu.”

Ở đây tôi xin nói thêm về con chíp 666 được chép trong Kinh Thánh sách Khải Huyền đoạn 13 nêu trên, hay còn được gọi là “Dấu của con thú” mà Chúa mặc khải cho Giăng (một trong 12 sứ đồ của Chúa Jesus) từ 2000 (hai ngàn) năm trước biết về ngày nay và điều này đang được ứng nghiệm;

Các bạn ơi, điều này là cực kỳ quan trọng vì thời giờ Chúa trở lại sắp đến gần rồi; Ngày nay rất nhiều người đang bàn luận về con chíp 666. Cách đây khoảng 20 năm thì có một người học về công nghệ thông tin có nói rằng: Trong máy vi tính thì có những mật mã mà chứa đựng những con số 666, người đó có đưa ra một đoạn mật mã dài và nói rằng khởi đầu của đoạn mật mã đó là số 6, ở giữa cũng là số 6, và kết thúc cũng là số 6. Nếu mà mật mã đó thiếu đi một phần của số 666 thì không thể hoạt động được; và bây giờ là năm 2011.

Chỉ khoảng vài năm nữa thôi thì phần lớn người trên thế giới này sẽ đều phải mang con chip 666 này trên người. Nếu mà ai không có mang chíp này thì không thể mua bán gì được, không thể giao dịch gì được…

Ở nước Mỹ vừa qua, ngày 23 tháng 3 năm 2010 thì một sự kiện hết sức quan trọng đã xảy ra là tổng thống Barack Obama đã ký ban hành đạo luật cải cách y tế (Health Care Reform) của nước này. Theo đó một phần trong đạo luật này có đề cập đến việc gắn con chíp cho mọi người…

Nếu mà bạn gắn con chíp này thì mọi mặt đời sống cá nhân của bạn tất cả sẽ bị phơi bày ra; Người ta sẽ biết được 24/24 là bạn đang làm gì, ở đâu? ví dụ như khi bạn lái xe thì nhờ con chíp này, người ta sẽ biết bạn đang ở đâu; hay là khi bạn nói chuyện điện thoại thì người ta sẽ biết được là bạn đang nói những gì? Hay là khi bạn sử dụng tài khoản tín dụng thì người ta có thể biết là bạn sử dụng vào mục đích gì, bao nhiêu…? …vv. Lúc này thì người ta không cần phải sử dụng tiền mặt hay là thẻ tín dụng nữa. Tất cả mọi giao dịch đều thông qua con chíp đó. Ví dụ như nếu bạn gắn con chíp đó vào trong cơ thể của mình thì khi bạn ra siêu thị mua đồ thì bạn không cần mang theo tiền mặt hay là thẻ tín dụng, khi bạn trả tiền thì người ta sẽ dựa vào con chip đó để mà trừ vào tiền trong tài khoản ngân hàng của bạn. Lúc đó mọi việc dường như sẽ rất là thuận lợi và dễ dàng.

Ngoài ra nó có thể tương quan với người sử dụng, thông tin được lưu trữ trên một cơ sở dữ liệu để xác minh danh tính, truy cập vào hồ sơ y tế và sử dụng khác.

Bây giờ chúng ta quay lại trong Kinh Thánh một chút, lùi lại một vài câu trong sách Khải Huyền đoạn 13 câu 14-15: “14Nó lừa dối dân cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú; và khuyên dân cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại. 15Nó cũng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi.

Vào một tương lai rất gần nữa thôi như trong Kinh Thánh nói, thật sự là một hình tượng sẽ được dựng nên bởi con người, ma quỉ sẽ làm thông qua hình tượng đó và hình tượng đó có thể nói được; Lúc đó mọi người sẽ phải quỳ lạy trước cái hình tượng này giống như trong Kinh Thánh Đa-ni-ên đoạn 3 nói rất rõ ràng là nếu như người nào không quì lạy trước hình tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã làm thì sẽ bị giết.

Nhưng mà ma quỉ thì không có nói cho chúng ta hay cho chúng ta thấy rằng nếu không thờ lạy hình tượng này thì sẽ bị giết mà nó dẫn chúng ta theo một con đường là nhận một con chíp; Đầu tiên để mua bán, lúc này không có sử dụng tiền mặt hay là tiền xu nữa mà sử dụng thẻ tín dụng, sau đó con người sẽ chế tạo ra một con chíp rất nhỏ và gắn nó vào trong cơ thể con người, dần dần mọi người sẽ muốn gắn con chíp này và sử dụng nó với công dụng như trên tôi đã nói.

Rồi khi có hình tượng, ma quỉ sẽ bắt buộc chúng ta phải thờ lạy hình tượng đó nếu không thờ lạy thì sẽ bị giết, nó sẽ đưa ra cái thông báo đó; Nhưng mà làm sao biết được là một người có thờ lạy hình tượng đó không vào thời điểm mà mọi người đều thờ lạy hình tượng đó, nếu một người ở xa hay trốn trong nhà của họ? Lúc đó thông qua con chíp này nó sẽ kiểm tra và biết được rằng người này đang thờ lạy hình tượng, người kia thì không thờ lạy… Nếu một người nhận con dấu đó thì suốt ngày không thể làm gì được mà chỉ thờ lạy hình tượng con thú thôi.

Các bạn à, điều quan trọng bây giờ là chúng ta phải nhận được sự cứu rỗi một cách chắc chắn; còn nếu người thân mình mặc dù chưa có nhận được sự cứu rỗi thì cũng hãy khuyên họ rằng cũng đừng có nhận dấu đó của con thú: “Ba à, con chíp mà thế giới hiện nay đang xuất hiện thì Kinh Thánh đã nói trước cách đây 2000 năm rồi; và đừng có nhận con dấu này nhé. Dù có bị bỏ lại thế gian này thì cũng đừng có nhận con chíp này, dù có phải chặt bỏ cánh tay thì cũng đừng có nhận…”, sau đó thì các bạn từ từ mà nói về sự cứu rỗi cho người thân của bạn nghe.

Thời gian thì đang đến mà chúng ta đang lãng phí nó, Chúa Jesus thì đã đổ huyết vì chúng ta; Và thời kỳ Chúa Jesus đến đang rất gần rồi. Chúng ta đừng có sống một đời sống lãng phí nữa, hãy sống chỉ vì Tin Lành này thôi. Đừng có ngả vào trong thế gian và bị xác thịt lôi kéo.
Hay những người nhận được sự cứu rỗi rồi thì cũng đừng có suy nghĩ rằng thời kỳ Chúa Jesus sắp đến rồi và tôi không làm gì cả mà chỉ lười biếng, ngồi chờ đợi ngày Chúa đến, chúng ta cũng đừng có chuẩn bị gì cả theo cách thức của mình. Hãy chỉ làm việc vì Tin Lành này thôi.

4. “Bão” châu chấu trong kinh thánh là có thật.

Nguồn trích dẫn: http://www.khoahoc.com.vn/khampha/1001-bi-an/17752_Bao-chau-chau-trong-kinh-thanh-la-co-that.aspx

Để trừng phạt các Pharaoh vì đã kìm giữ dân Do Thái, Chúa trời gieo xuống Ai Cập 10 tai họa, trong đó có trận dịch châu chấu khủng khiếp. Các nhà khoa học cho rằng câu chuyện này trong Kinh thánh có thể là sự thật.

Theo kinh Cựu ước cách đây hơn 3.000 năm, người Do Thái sau một thời gian phát triển thịnh thượng trên đất Ai Cập đã bị chính quyền nước này bắt làm nô lệ, đời sống khổ cực. Để cứu vớt họ, và cũng để thực hiện lời hứa với tổ tiên họ, Chúa đã sai Moise, một người Do Thái được nuôi trong hoàng cung Ai Cập, đưa dân mình trở về.

Cùng với các sứ giả của dân Do Thái, Moise đã đề nghị pharaoh cho người Do Thái được rời Ai Cập, nhưng nhà vua kiên quyết không chấp nhận. Phải sau khi nhận đủ kinh hoàng từ 10 tai họa mà Chúa giáng xuống, pharaoh mới để họ đi. “Bão” châu chấu là một trong 10 tai họa đó.

Theo kinh thánh, Chúa trời đã cho châu chấu “che kín tất cả diện tích của đất nước“. Loài côn trùng phàm ăn này đã chén sạch các nông phẩm và đẩy cư dân rơi vào nạn đói khủng khiếp.
Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh, thảm họa châu chấu thời Ai Cập cổ được ghi lại trong kinh thánh là có cơ sở. Họ cho rằng đội quân châu chấu hàng triệu con tấn công Ai Cập gây ra đại họa thời đó có thể do tác động của sự phun trào núi lửa Santonin (cách bờ biển Địa Trung Hải của Ai Cập chừng 70 km).
Vào khoảng năm 1.600 trước Công nguyên, ngọn núi này bùng nổ dữ dội, phun một lượng lớn nham thạch và tro phủ kín một vùng rộng tới 30 km2. Chính những tác động về môi trường này đã làm đàn châu chấu, vốn sinh sống xung quanh Biển Đỏ, đã tập trung về Ai Cập. Chúng di chuyển với tốc độ kinh hoàng vì được sự trợ giúp của gió sa mạc.

Đó là dòng châu chấu râu ngắn (họ Acrididae) có khả năng thay đổi màu sắc và hành vi khi mật độ quần thể lớn. Cùng với tốc độ sinh sản cực nhanh, có nơi hiện diện 200 con trên một mét vuông diện tích đất trồng, mỗi ngày tăng thể trọng lên gấp đôi. Chúng thực sự có thể biến một vương quốc sầm uất thành hoang mạc.

Châu chấu có khả năng kỳ lạ

Người ta không hiểu tại sao loài châu chấu cách đây khoảng 3-5 triệu năm đã từ châu Phi vượt qua Đại Tây Dương và bay đến châu Mỹ; trong khi mỗi con chỉ nặng trung bình 0,2-7 g. Nghĩa là dinh dưỡng dự trữ trên mỗi con châu chấu không đủ giúp chúng thực hiện cuộc hành trình dài đến như vậy.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy châu chấu có hệ cơ bắp rất phát triển nên có bước nhảy xa tới gần 1 m. Các đàn châu chấu có khả năng di chuyển từ vài km cho tới trên 100 km mỗi ngày, hay 3.500 km mỗi tháng, tương đương với một cơn bão cấp 12.

Mắt của loài châu chấu cũng rất đặc biệt. Trong một giây, chúng có thể nhìn thấy nhiều hình ảnh hơn con người. Chúng phản ứng cực nhanh với những vật đang chuyển động xung quanh ở cự ly gần và tránh né trước khi va chạm. Điều này giúp loài châu chấu có khả năng di chuyển theo từng đàn dày đặc.

Các đàn châu chấu với mật độ lên tới 80 triệu con/km2 có thể san phẳng bất cứ những gì chúng gặp. Bản năng di chuyển theo đàn của châu chấu có liên quan đến cách đẻ trứng của chúng.

Vào mùa giao phối, châu chấu thường tập trung đẻ trứng hàng loạt trên một phạm vi hẹp và nở đồng loạt. Mỗi ổ trứng chứa tới 120 quả. Chỉ sau nửa tháng, chúng sẽ trưởng thành. Các con non khi ra đời đã có thói quen sống và di chuyển theo bầy đàn. Mặt khác, việc sống bầy đàn sẽ giúp chúng giữ được nhiệt độ cơ thể, một yếu tố sống còn với loài côn trùng.
Cách thức di chuyển của chúng cũng rất kỳ lạ, chỉ cần một con bay lên là cả đàn hàng triệu con sẽ di chuyển, tạo nên một cơn bão châu chấu. Mưa nhiều trong mùa sinh sản cũng là một trong những nguyên nhân làm chúng phát triển nhanh hơn.

Thảm họa đói nghèo

Di chuyển với tốc độ 100 km/ngày, những đàn châu chấu hàng triệu con đã thực sự trở thành “cơn bão” tàn phá tất cả những nơi mà chúng đi qua. Hậu quả mà chúng để lại là đói nghèo, bệnh tật. Hàng nghìn năm qua, những “cơn bão châu chấu” vẫn ám ảnh loài người và vẫn chưa có cách khống chế hữu hiệu.

Thế kỷ 20 có rất nhiều đại dịch châu chấu như các năm 1926-1934, 1940-1948, 1986-1989… Chúng tràn vào một diện tích đất rộng 30 triệu km2 tại khoảng 60 nước (20% diện tích đất trên hành tinh), chén sạch mọi cánh đồng ngô, sắn và các loại cây lương thực khác trong vùng.

Châu chấu tàn phá hơn 6 triệu ha đất canh tác tại tây bắc châu Phi. Người ta ước tính, chỉ vài phút đồng hồ, chúng đã ăn hết lượng lương thực đủ dùng cho hơn 2.000 người trong một ngày. Chúng hiện diện khắp châu Phi và là nguyên nhân chính gây ra nạn đói tại Sudan.
Tại Việt Nam, nhiều tài liệu đã ghi nhận có “bão châu chấu” vào thời vua Tự Đức (1838-1840) làm mùa màng thất bát, nhân dân đói khổ. Châu chấu thường gây đại dịch ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ vào khoảng tháng 6-7 hằng năm. Gần đây nhất, tháng 9/2007, “giặc” châu chấu đã tấn công nhiều khu vực của Nghệ An, gây không ít khó khăn cho nhân dân trong vùng.

Để ngăn chặn thảm họa châu chấu, các nhà khoa học đã tìm đủ mọi cách, như dùng vệ tinh nhân tạo để dự đoán hướng đi của “cơn bão”. Tuy nhiên, các dự đoán đôi lúc không chính xác, bởi chúng hay đổi hướng khó lường. Hơn nữa, “cơn bão” này càng đi càng mạnh lên. Tại châu Phi, các loại thiết bị hiện đại nhất đã được huy động để chặn “bão châu chấu”, nhưng đều chưa có hiệu quả.

Vào năm 2004, người ta đã sử dụng máy bay để phun hóa chất cho gần 11 triệu ha đất, chỉ để diệt châu chấu. Phương pháp này khá hiệu quả, nhưng chưa phá tan được nạn châu chấu thì đã gây hại cho môi trường.

Gần đây, các nhà khoa học đã thử nghiệm phương pháp sinh học để khống chế “bão châu chấu”. Người ta sử dụng một loại nấm có tên là Metarhizium anisopliae. Chúng có thể tiêu diệt châu chấu song lại vô hại với những thực vật và động vật khác. Song tất cả những biện pháp trên vẫn chỉ hạn chế tác hại của “bão châu chấu” chứ chưa hề chấm dứt được chúng.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

5. Chuyện về chòm Sao Rua (Pleiades) và Sao Cầy!

– Tiên tri A-mốt viết rằng: “Hãy tìm Đấng đã dựng nên những sao Rua và sao Cày…” (Kinh Thánh sách A-mốt đoạn 5 câu 8); Hay trong sách Gióp đoạn 9 câu 9 chép rằng: “9.Ngài dựng nên sao bắc-đẩu, sao cày và sao rua, sao thất nữ và tinh tú phương nam.

(Các con gái của sự đi thuyền, tức khi chòm sao đó mọc thì chỉ rằng thời gian đó đi thuyền bình yên)
Tiếng Hê-bơ-rơ là Kimah là tên của một ngôi hay một đám sao sáng mà theo ý kiến phần nhiều các nhà văn sĩ là sao rua. Tiếng A-rạp có một tên chỉ về sao rua là Thuriyya, tức đám sao dày đậm.

Sao rua là một chòm sao trong đám sao kim ngưu (Taureau) trên vai con vật, hiện nay còn rất nhiều bí ẩn về chòm sao này mà các nhà thiên văn học đang rất “hứng thú” nghiên cứu. Không biết vì cớ nào, người xưa nói là bảy ngôi và vì chỉ thường thấy có sáu, thì người ta nói là mất chòm sao rua. Mắt trần của người có thể thấy được sáu ngôi, song người nào tinh mắt có thể thấy hơn. Nếu nhìn bằng kính viễn vọng, thì thấy đến hơn trăm ngôi sao. Ðến cuối mùa Ðông, sao rua sáng tỏ lắm. Josèphe cũng dùng sự lập sao rua để chỉ thời gian.

– Thêm một thú vị về Chòm Sao-rua và Sao-cầy:

Trong Kinh Thánh, sách Gióp đoạn 38 câu 31 chép rằng: “31.Ngươi có thể riết các dây chằng Sao-rua lại, và tách các xiềng Sao-cầy ra chăng?

…Và bạn hãy so sánh câu Kinh Thánh trên với việc: Madler (một nhà thiên văn học người Đức) ở Dorpat tìm ra rằng cả hành tinh hệ cứ tiến lên xung quanh Alcyone, là sao sáng nhứt của đám sao rua. Các sao trong đám sao Rua ràng buộc với nhau bằng một hấp lực mạnh lạ lùng đến nỗi kéo cả hành tinh hệ và mặt trời của ta xung quanh mình mỗi ngày độ 675.000 cây số trong một quĩ đạo sẽ mất hàng nghìn năm mới xong!.

(Xem thêm về Mädler: http://www.daviddarling.info/encyclopedia/M/Madler.html)

6. Một vài thú vị về Khí tượng học và Hải dương học!

– Nói về Khí tượng học, chúng ta biết về vòng luân hồi của nước. Nước theo sông chảy ra biển, nước biển bốc hơi và được gió đưa về đất liền, biến thành mưa và rơi xuống. Đây là phát hiện của khoa học hiện đại gần đây; Tuy nhiên khoảng 900 trước Công nguyên, trong Kinh Thánh vua Sa-lô-môn đã viết: “6Gió thổi về hướng nam, kế xây qua hướng bắc; Nó xây đi vần lại không ngừng, rồi trở về vòng cũ nó. 7Mọi sông đều đổ vào biển, song không hề làm đầy biển; nơi mà sông thường chảy vào, nó lại chảy về đó nữa.” (sách Truyền Đạo, đoạn 1 câu 6-7).

Nếu đã ngạc nhiên về sự hiểu biết của Sa-lô-môn trước đây 30 thế kỷ, chúng ta sẽ càng kính nể hơn sự tỏ tường của Ê-li-hu là người sống cách đây bốn ngàn năm: “26Phải, Đức Chúa Trời là cực đại, chúng ta không biết được Ngài. Số năm của Ngài thọ không ai kể xiết được. 27Vì Ngài thâu hấp các giọt nước: Rồi từ sa mù giọt nước ấy bèn hóa ra mưa. 28Đám mây đổ mưa ấy ra. Nó từng giọt sa xuống rất nhiều trên loài người. 29Ai có thể hiểu được cách mây giăng ra và tiếng lôi đình của nhà trại Ngài… 33 Tiếng sấm sét báo cáo việc Ngài. Và chính súc vật cũng đoán điềm dông mưa gần đến.” (Kinh Thánh sách Gióp đoạn 36 câu 26-27-28-29 và 33) và ông Gióp cũng viết rằng: “8Ngài ém nước trong các áng mây Ngài. Mà áng mây không bứt ra vì nước ấy” (Kinh Thánh, sách Gióp đoạn 26 câu 8).

Ở đây ta có thể một điều kỳ lạ là Kinh Thánh cũng đã nói về việc các loài vật có thể đoán trước được khi nào có mưa dông, điều mà một số nhà khoa học gần đây đang nghiên cứu nhưng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Có một giáo sư tuyên bố trước sinh viên của mình: “Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên không trung, rải hóa chất xuống đám mây là có mưa ngay. Cầu nguyện thì đến bao giờ mới có mưa?” Mọi người nghe đều cảm thấy có lý. Tuy nhiên có một sinh viên mạnh dạn giơ tay xin hỏi: “Vậy thưa giáo sư, giả sử Đức Chúa Trời không làm ra đám mây và đem đám mây ấy đến những nơi cần có mưa, các nhà khoa học lấy mây ở đâu để làm mưa nhân tạo?” Há miệng mắc quai, xin chúng ta hình dung ra nét mặt lúng túng của vị giáo sư đáng thương kia.

– Nói về Hải dương học, mãi đến năm 1786, các nhà khoa học mới phát hiện ra các dòng nước biển. Thế mà một ngàn năm trước công nguyên Vua Đa-vít đã viết trong Kinh Thánh: “8Chim trời và cá biển, cùng phàm vật gì lội đi các lối biển.” (Kinh Thánh, sách Thi thiên đoạn 8 câu 8.) Các lối biển có nghĩa là các đường đi trên biển hay dòng nước biển. Các con chim di dân dựa vào dòng nước biển để bay xuống phương nam trú ngụ qua mùa đông. Các con cá Hồi sinh ra ở trên núi, sống ở ngoài biển, cứ sau bốn năm nó lại theo dòng nước biển để tìm cửa sông rồi bơi ngược theo dòng sông về núi để đẻ trứng. Điều ấy quả thật là sự kỳ diệu. Ông Gióp, một người sống cách đây 4 ngàn năm còn viết về các nguồn suối nước phun lên từ đáy biển: “16Chớ thì ngươi có thấu đến nguồn của biển sao? Há có bước dưới đáy vực sâu chăng?” (Kinh Thánh, sách Gióp đoạn 38 câu 16.). Hải dương học thế kỷ hai mươi cũng đã xác nghiệm hiện tượng kỳ lạ này.

Cũng ông Gióp ấy, người chăn cừu tầm thường sống ở vùng Trung Cận Động sa mạc nóng hừng hực quanh năm, làm sao ông có thể biết được việc có những nơi trên thế giới được băng đá bao phủ một cách vĩnh cửu. Nếu lượng nước đá ở Nam Cực, Bắc Cực và Băng đảo (Greenland) tan ra, mực nước biển trên thế giới sẽ được nâng lên vài chục mét. Ông viết: “29Nước đá ra bởi lòng của ai?Ai đẻ ra sương móc của trời? 30Nước đông lại như đá, rồi ẩn bí, và mặt vực sâu trở thành cứng.” (Kinh Thánh, sách Gióp đoạn 38 câu 29-30). Thật chẳng có cách gì giải thích được sự hiểu biết của Gióp ngoài việc Đức Chúa Trời “mở óc” cho ông.

7. Thêm một vài lời chứng về Chúa Jesus.

– Sử gia La-mã gốc Do-Thái là ông Flavius Josephus, sinh năm 37 sau CN mô tả về Chúa Jesus như sau:

Vào thời gian ấy có một người – nếu chúng ta được mạn phép gọi Ngài là “người”. – tên là Giê-su. Ngài làm những công việc kỳ diệu và dạy dỗ những kẻ tìm cầu chân lý. Nhiều người Do-thái và dân ngoại bang đi theo Ngài. Ngài quả thật là Cứu Chúa. Tổng trấn La mã đã theo lời xúi giục của các vị quyền bính đương thời, đóng đinh Ngài trên cây thập tự. Nhưng các môn đồ của Ngài, những kẻ yêu Ngài chẳng hề chối từ Ngài. Ngài đã sống lại trong ngày thứ ba và hiện ra cho các môn đồ mình thấy. Những lời tiên tri viết về Ngài, cộng với hàng vạn sự việc kỳ diệu khác làm chứng cho Ngài. Từ đó, một tôn giáo mới gọi là Cứu Chúa Giáo hay Đạo Chúa xuất hiện và tồn tại đến ngày hôm nay.

(Trích sách Antiquities xiii 33)

8. Sự thật về vụ án Ga-li-lê, Cô-péch-nic.

>> Dựa theo (một phần): Tùng Tri – Dựa theo “Why You Can Have Confidence In The Bible” by Dr. Harold J. Sala & “The Bible and Medicine” by Dr. John Hellawell

–   Nicolaus Copernicus (tên tiếng Ba Lan: Mikolaj Kopernik) (19 tháng 2, 1473 – 24 tháng 5, 1543) là một nhà thiên văn học đã nêu ra hình thức hiện đại đầu tiên của thuyết nhật tâm (Mặt Trời ở trung tâm) trong cuốn sách mang tính mở đầu một kỷ nguyên của ông, cuốn Về sự chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium).Copernicus sinh năm 1473 tại thành phố Toruń, ở Hoàng gia Phổ, một tỉnh tự trị của Vương quốc Ba Lan (1385–1569). Ông học tập ở Ba Lan và Ý, và dành phần lớn cuộc đời làm việc ở Frombork, Hoàng gia Phổ, nơi ông mất năm 1543.

– Galileo Galilei (1564 – 1642) là nhà thiên văn học thiên tài người Ý trong thế kỷ 17. Với chiếc viễn vọng kính đầu tiên do ông sáng chế, Galileo là nhà thiên văn đầu tiên quan sát được các vệ tinh của sao Mộc, cũng như các đồi núi chập chùng trên mặt trăng. Nhưng tên tuổi của nhà khoa học tài ba này được nhiều người biết đến nhiều nhất qua việc ông bị những người có thẩm quyền tôn giáo thời đó kết án vì công trình nghiên cứu khoa học của mình.

Trước thời của Galileo, trong hơn 1500 năm, mọi người đều tin và và các trường đại học đều giảng dạy rằng “mặt trời quay chung quanh trái đất”, cho mãi đến thế kỷ 16, nhà thiên văn Nicolaus Copernicus, qua công trình nghiên cứu khoa học của mình, đã tuyên bố ngược lại, tức là “trái đất phải quay chung quanh mặt trời” mới đúng. Tuy vậy, lời tuyên bố này cũng chưa có gì là “lớn chuyện” cho đến khi Galileo Galilei, qua nhiều quan sát thiên văn với viễn vọng kính, hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Copernicus và dành nhiều nỗ lực để phổ biến nhận định này. Điều này đã đi ngược với định kiến của một số người có thẩm quyền tôn giáo thời bấy giờ, với kết quả là Galileo buộc phải rút lại lời tuyên bố và bị xử án tù chung thân tại gia vào năm 1633. Chúng ta ngày nay đều biết rằng “trái đất quay chung quanh mặt trời” và như vậy Galileo đã bị xử oan.

Câu chuyện lịch sử này đã được phổ biến nhiều lần trên sách vở, báo chí, kèm theo với chiến thuật “vơ đũa cả nắm”, gộp chung những người có thẩm quyền tôn giáo và quyển Kinh Thánh làm một, nhằm chứng minh Kinh Thánh là một quyển sách phản khoa học. Thực ra, các giới chức thẩm quyền của thế kỷ 17 đã áp đặt quan niệm riêng của họ trước lời tuyên bố của Galileo, chứ Kinh Thánh không có nơi nào nói rằng mặt trời quay chung quanh trái đất cả.

Chính nhà khoa học bị xử oan Galileo cũng tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu hết lòng và nhận thấy sự hài hòa giữa công trình khoa học và lời trong Kinh Thánh, khi ông tuyên bố: “Con người nhận ra Thiên Chúa qua công trình sáng tạo của Ngài trong thiên nhiên và qua chân lý được tỏ bày trong lời Ngài”. Nhà khoa học thực nghiệm lỗi lạc này phân biệt rõ ràng rằng “Kinh Thánh hướng dẫn con người đi đến thiên đàng, chứ không phải để mô tả thiên đàng vận hành ra sao”. Galileo cũng quả quyết sự hiểu biết đúng đắn về Kinh Thánh chắc chắn phải phù hợp với những sự kiện khoa học, khi ông mô tả như sau: “Quyển sách Thiên Nhiên, được viết bằng ngôn ngữ của toán học, chắc chắn phải phù hợp với quyển sách Kinh Thánh, được viết bằng ngôn ngữ phổ thông hằng ngày của mọi người”.

Nếu bạn muốn dẫn chứng một vài câu trong Kinh Thánh nói rằng mặt trời quay xung quanh trái đất thì các bạn đang có một sự nhầm lẫn trầm trọng ở đây; ví dụ như:
Kinh Thánh, sách Thi Thiên đoạn 19 câu 6: “Mặt trời ra từ phương nầy, chạy vòng giáp đến phương trời kia; Chẳng chi tránh được hơi nóng mặt trời được.”
Hay là sách Thi Thiên đoạn 50 câu 1: “Đấng quyền năng, là Đức Chúa Trời, là Đức Giê-hô-va, đã phán và gọi thiên hạ. Từ hướng mặt trời mọc cho đến hướng mặt trời lặn”
Hay là sách Thi Thiên đoạn 104 câu 19: “Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thời tiết; Mặt trời biết giờ lặn.”
Hay là sách Thi Thiên đoạn 113 đoạn 3: “Từ nơi mặt trời mọc đến nơi mặt trời lặn, Khá ca ngợi danh Đức Giê-hô-va!”
Hay là sách Gióp đoạn 9 câu 7: “Ngài dạy biểu mặt trời, nó bèn chẳng mọc, Ngài đóng ấn trên các ngôi sao.”
Hay là sách Gióp đoạn 31 câu 26: “Nếu tôi có thấy mặt trời chiếu sáng, và mặt trăng mọc lên soi tỏ,”
…Ngoài ra còn có nhiều câu khác không liệt kê ở đây.

Các bạn cần chú ý một vấn đề là về mặt ngôn ngữ hay là về “thể văn” được viết ra; Đương nhiên toàn bộ Kinh Thánh là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời thì không thể nào sai trật được. Trong mỗi câu Kinh Thánh thì bạn không nên hiểu một cách máy móc mà bạn phải phân tích xem xét thật kỹ lưỡng là Đức Chúa Trời thì muốn nói điều gì trong đó.

Ví dụ như sáng sớm bạn ra bãi biển ngồi và bạn thấy cảnh mặt trời mọc đúng không? Có bao giờ bạn nói là: “à, mình thì đang đi đến phần sáng của mặt trời” không? Hay là khi bạn thấy cảnh mặt trời lặn thì bạn có bao giờ nói là: “à, mình thì đang đi đến phần khuất của mặt trời” không?!

Ngay cả trong ngôn ngữ nói chuyện hàng ngày của chúng ta dù biết rằng Trái đất quay quanh mặt trời nhưng người ta vẫn nói là mặt trời “mọc” ở hướng đông và “lặn” ở hướng tây đó thôi?

Một ví dụ nữa như là: Có một lời khuyên bảo dân chúng từ 2000 năm trước ghi rằng: “Hãy vâng phục các vua của đời này”; Chẳng lẽ có bao giờ lại ghi rằng: “Hãy vâng phục các Tổng thống của đời này” không???

Và các bạn cần biết rằng Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời viết ra là để cho ai đọc? Chẳng lẽ để dành riêng cho Ngài đọc. Kinh Thánh Đức Chúa Trời viết ra là để cho con người đọc.

Trong Kinh Thánh, sách Mác đoạn 2 câu 9, khi có mấy thầy thông giáo bắt bẻ Chúa Jesus, thì Ngài nói rằng: “Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác giường mà đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn?”.

Kinh Thánh viết ra là để cho con người đọc thì phải viết như thế nào cho dễ hiểu chứ, viết theo ngôn ngữ phổ thông chứ. Phải không?

Xét về mặt khoa học một chút, trong vũ trụ bao la, việc chúng ta chọn hệ quy chiếu như thế nào thì lại là chuyện khác; Nếu chọn hệ quy chiếu lấy mặt trời làm điểm mốc thì là Trái Đất quay quanh mặt trời. Còn nếu bạn chọn hệ quy chiếu lấy Trái đất làm mốc thì ngược lại. Chứ đây là ta chưa nói đến việc cả hệ gồm cả mặt trời và Trái đất không ngừng vẫn “trôi dạt” mỗi ngày trong vũ trụ bao la này. Lấy ví dụ: có 2 chiếc xe ô-tô chạy cùng chiều với nhau với 2 vận tốc khác nhau, mặc dù cả 2 chiếc đều chuyển động nhưng nếu một người ngồi trên chiếc xe chạy chậm hơn và chiếc xe kia chạy nhanh hơn vượt từ từ qua mặt mình thì thấy dường như xe mình đang đứng yên chứ không chuyển động vì khi đó người đó lấy mình làm mốc, và đồng một cách thức ấy nếu một người ngồi trên chiếc xe chạy nhanh hơn thì cũng thấy dường như chiếc xe chạy chậm kia không hề chuyển động! (nếu không nhìn vào bánh xe đang lăn của xe đó!!!). Hay là khi bạn ra đường và nhìn thấy một cái cây và đương nhiên là bạn nói cái cây kia đang đứng yên; Nhưng nếu tầm nhìn chúng ta xa hơn chút xíu, giả sử bạn ra ngoài vũ trụ và vẫn nhìn thấy cái cây đó thì lúc này cái cây đó đang chuyển động đấy! vì Trái đất vẫn đang chuyển động mà?!!

9. Một thú vị về canh tác đất đai trong Kinh Thánh!

– Nói về canh tác hay trồng trọt, con người thường lạm dụng đất đai, làm nhiều vụ mùa trong một năm và không bao giờ để đất nghỉ yên. Mặc dù có nhiều phân bón nhân tạo, nhưng đất đai sau khi bị lạm dụng quá mức, sẽ trở nên bị cằn cỗi. Các nông gia khám phá ra rằng, khi đất đã cằn cỗi, không một hình thức trị liệu bằng con đường hóa chất có thể phục hồi, tái tạo đất màu mỡ và đem lại sanh lực cho đất, nhưng chỉ duy một điều – đó là để cho đất nghỉ một lần sau bảy năm canh tác. Cách đây gần 4000 năm, Môi-se dưới sự soi dẫn của Đức Chúa Trời, đã viết ra lời hướng dẫn để tuyển dân của Ngài biết cách giữ gìn đất đai canh tác, hầu không phải lâm vào nạn đói kém. Môi-se viết: “10.Trải sáu năm ngươi hãy gieo trong đất, thâu lấy hoa lợi, 11.nhưng qua năm thứ bảy hãy để cho đất nghỉ; hầu cho kẻ nghèo khổ trong dân sự ngươi được nhờ lấy hoa quả đất đó, còn dư lại bao nhiêu thú vật ngoài đồng ăn lấy. Cũng hãy làm như vậy về vườn nho và cây ô-li-ve.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:10-11)

10. Chuyện vệ sinh, y tế trong Kinh Thánh.

– Trong quá khứ có rất nhiều bệnh truyền nhiễm lây lan thành cơn dịch, với lý do đơn giản người ta không giữ đúng phép vệ sinh. Thực ra, khái niệm về vi trùng, vi khuẩn, bệnh tật truyền nhiễm lây lan như thế nào qua sự tiếp xúc hàng ngày, là những khám phá gần đây của y học. Thế nhưng cách đây hơn 3500 năm, Kinh Thánh đã hướng dẫn tường tận về phép vệ sinh như sau: “Ai đụng đến một xác chết của người nào sẽ bị ô uế trong bảy ngày…” (Dân-số ký 19:11)

Hay là tại Lê-vi ký đoạn 15 từ câu 1 có chép: “1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Phàm người nam nào thân mình bị bịnh bạch trược, thì vì cớ đó bị ô uế; 3 sự ô uế người bởi nơi bạch trược: hoặc thân mình chảy bạch trược ra hay là ứ lại, thì người bị ô uế. 4 Hễ giường nào người bịnh bạch trược nằm, đều sẽ bị ô uế: và các vật nào người ngồi trên cũng sẽ bị ô uế. 5 Ai đụng đến giường người, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 6 Ai ngồi trên vật chi mà người bịnh bạch trược đã ngồi, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 7 Ai đụng đến mình người bịnh bạch trược, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 8 Nếu người bịnh bạch trược nhổ nhằm người nào tinh sạch, thì người đó phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 9 Hễ xe nào người bịnh bạch trược ngồi lên đều sẽ bị ô uế. 10 Hễ ai đụng đến bất kỳ vật chi dưới mình người bịnh bạch trược, đều sẽ bị ô uế đến chiều tối. Còn ai mang các vật đó, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 11 Ai bị người bịnh bạch trược rờ đến mà nếu người bịnh đó không rửa tay mình trong nước, thì ai đó phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 12 Đồ sành bị người bịnh bạch trược đụng đến, phải đập bể đi, còn đồ gỗ, thì rửa trong nước. 13 Vả, khi người nam bị bịnh bạch trược đã lành rồi, thì phải tính từ ngày lành đến bảy ngày, kế giặt quần áo mình và tắm trong nước chảy; đoạn, người sẽ được tinh sạch. 14 Qua ngày thứ tám, người bắt cho mình hai chim cu, hay là hai con bò câu con, đến trước mặt Đức Giê-hô-va, tại cửa hội mạc, và đưa cho thầy tế lễ. 15 Thầy tế lễ sẽ dâng con nầy làm của lễ chuộc tội, con kia làm của lễ thiêu; vậy, thầy tế lễ vì cớ bịnh bạch trược, sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va. 16 Hễ người nam di tinh, phải tắm trọn mình trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 17 Phàm quần áo và da bị dính, phải giặt rửa trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 18 Khi nào người nam và người nữ giao cấu nhau, thì phải tắm trong nước, và bị ô uế cho đến chiều tối. 19 Khi nào một người nữ có kinh nguyệt, phải chịu ô uế trong bảy ngày; hễ ai đụng đến người, sẽ bị ô uế đến chiều tối. 20 Phàm vật gì người nằm hay ngồi trên trong lúc mình không sạch, sẽ bị ô uế. 21 Ai đụng đến giường người, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 22 Ai đụng đến vật gì người đã ngồi trên, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 23 Nếu có vật chi nơi giường, hoặc trên đồ người ngồi, hễ ai đụng đến, sẽ bị ô uế đến chiều tối. 24 Ví bằng một người nam giao cấu cùng người nữ đó, và sự ô uế kinh nguyệt dính người nam, thì người nam sẽ bị ô uế trong bảy ngày; phàm giường nào người nằm đều cũng sẽ bị ô uế. 25 Khi một người nữ ngoài kỳ kinh nguyệt mình lại có lưu huyết nhiều ngày, hoặc là bị mất quá kỳ, sẽ bị ô uế trọn trong lúc lưu huyết như trong lúc kinh nguyệt mình vậy. 26 Trong trọn lúc lưu huyết, bất kỳ giường nào người nằm trên sẽ như cái giường của kỳ kinh nguyệt, và mọi vật nào người ngồi trên, đều sẽ bị ô uế như trong kỳ kinh nguyệt vậy. 27 Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô uế; phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến chiều tối. 28 Khi nào huyết người nữ cầm lại rồi, phải tính từ ngày lành đến bảy ngày, đoạn sẽ được tinh sạch. 29 Qua ngày thứ tám, người bắt hai con chim cu, hoặc hai con bò câu con, đem đến thầy tế lễ tại cửa hội mạc. 30 Thầy tế lễ phải dâng con nầy làm của lễ chuộc tội, và con kia làm của lễ thiêu; vậy, thầy tế lễ vì cớ sự lưu huyết ô uế người sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va. 31 Thế thì, các ngươi sẽ phân cách dân Y-sơ-ra-ên ra xa sự ô uế của họ, kẻo họ làm ô uế hội mạc ta vẫn ở giữa họ, mà phải chết trong sự ô uế mình chăng. 32 Đó là luật lệ về người nào bị bịnh bạch trược hay là vì cớ di tinh bị ô uế, 33 về người nữ có kỳ kinh nguyệt, về mọi người, hoặc nam hay nữ, bị bạch trược, và về người nam giao cấu cùng người nữ trong khi kinh nguyệt.”

~ Hết ~

3 thoughts on “Kinh Thánh, Khoa Học và Niềm Tin

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s